Chương 1: Tông phụ

Chương trước Chương trước Chương sau

Trận mưa cuối cùng của tiết cuối thu khiến những phiến lá vàng trên cây ngô đồng nơi góc sân rụng tơi bời.

Trời còn chưa tỏ, nha hoàn Kiều Hạnh vừa bước chân ra ngoài, mũi hài giẫm phải lớp lá rụng trơn trượt, khiến nàng suýt ngã.

Nàng vội cất tiếng gọi nha hoàn quét tước trong viện:

“Mau quét sạch chỗ lá rụng này đi, nhỡ có ai giẫm phải rồi trượt ngã thì không hay.”

Dứt lời, Kiều Hạnh liền đi về phía phòng bếp đun nước, chẳng hề hay biết nha hoàn phía sau đang ấm ức, lén bĩu môi với nàng.

Kiều Hạnh nhanh chóng đun xong một ấm nước, bưng đến trước cửa phòng chính rồi khẽ cất tiếng gọi:

“Phu nhân đã thức dậy chưa ạ?”

Trong phòng im ắng, chốc lát sau mới vọng ra một giọng nói dịu dàng, trong trẻo:

“Dậy rồi, vào đi.”

Kiều Hạnh đẩy cửa bước vào, ánh mắt liền dừng lại nơi bóng hình đang ngồi bên khung cửa sổ.

Căn phòng vắng lặng, không một bóng người hầu, chỉ có mình nàng.

Nàng đã chỉnh tề xiêm y, khoác trên mình chiếc áo kép bằng gấm chìm màu hạnh đã hơi cũ. Màu sắc tuy chẳng lộng lẫy kiêu sa, nhưng lại khéo léo tôn lên chiếc cổ thon dài cùng làn da trắng ngần. Đôi môi nàng phơn phớt sắc đào, sống mũi thanh tú hài hòa. Trên gương mặt thanh lệ ấy, đôi mắt sáng trong tựa mặt hồ dưới ánh trăng đang khẽ rủ xuống.

Nàng chẳng buồn nhìn nhiều vào tấm gương đồng trên bàn trang điểm, đôi tay thon thoăn thoắt gom mái tóc đen nhánh, búi thành kiểu tóc phụ nhân đoan chính, mực thước.

Kiều Hạnh vốn chẳng thích kiểu tóc này của phu nhân.

Thuở phu nhân còn là cô nương nhà họ Hạng, bên thái dương buông lơi lọn tóc tết mảnh mai, mái tóc mây bồng bềnh búi lỏng, chỉ điểm xuyết vài viên đông châu cũng đủ khiến người ta nhìn đến quên cả thế tục.

Thế nhưng từ ngày gả vào Đàm gia, Hạng cô nương ngày nào nay đã trở thành tông phụ của cả một dòng tộc. Chẳng những kiểu tóc mây năm xưa không còn thấy bóng dáng, mà ngay cả những kiểu búi tóc thịnh hành thời nay nàng cũng chẳng buồn màng tới. Mỗi ngày nàng chỉ chải một kiểu tóc đoan chính, quy củ đến mức không thể bắt bẻ, cài thêm một chiếc trâm bạc đơn chiếc, thế là xong.

Khi còn ở Hạng gia vẫn rạng rỡ là thế, vừa bước chân vào Đàm phủ lại như phai nhạt cả sắc hương.

Đã vậy, sau khi thành thân vừa tròn một tháng, phu quân nàng đã lên kinh ứng thí, để nàng một mình lẻ bóng chốn khuê phòng. Sau khi đỗ đạt, chàng ở lại kinh thành làm quan, thấm thoắt ba năm ròng rã chưa từng quay về.

“Phu nhân chi bằng đổi kiểu tóc khác đi. Hôm qua nô tỳ thấy Đại cô nương chải kiểu tóc mới thịnh hành ở Giang Nam, trông thực sự rất đẹp mắt. Chúng ta biến tấu đôi chút rồi cũng búi một kiểu như vậy nhé.”

Nàng đầy mong đợi nhìn phu nhân nhà mình.

Hạng Nghi nghe vậy chỉ khẽ cười:

“Cô nương nhà son rỗi tôn quý, dĩ nhiên phải trang điểm sao cho xinh xắn diễm lệ, ta lẽ nào lại đi so bì với cô nương?”

“Có gì mà khác nhau chứ? Người cũng chỉ lớn hơn Đại cô nương vài tuổi mà thôi.”

Chẳng qua Đại cô nương có người thương yêu, săn sóc, còn phu nhân ở nơi này lại chẳng có ai đoái hoài...

Kiều Hạnh là nữ nhi nhũ mẫu của Hạng Nghi, hai người lớn lên bên nhau từ thuở ấu thơ. Hạng Nghi biết nàng xót xa cho mình, liền trao cho nàng ánh nhìn trấn an đầy ý cười:

“Được rồi, chúng ta tới Đàm gia đâu phải để ganh đua hơn thua, cứ làm trọn bổn phận của mình là được.”

Kiều Hạnh biết ngay phu nhân sẽ nói lời ấy.

Trong lòng phu nhân, bước chân vào Đàm gia chỉ đơn thuần là để gánh vác việc nhà, những chuyện khác trước nay nàng chưa từng để tâm. Nhưng dù thế nào, phu nhân cũng là người được kiệu hoa rước vào cửa chính Đàm gia, là thê tử của tông tử Đàm gia...

Kiều Hạnh vừa định nói thêm, Hạng Nghi đã đứng dậy:

“Được rồi, giờ cũng không còn sớm nữa, nên sang thỉnh an Lão phu nhân thôi.”

Kiều Hạnh không tiện nói thêm, chỉ đành nén tiếng thở dài đầy bất bình, hầu hạ Hạng Nghi rửa mặt, khẽ điểm lại đôi mày ngài, rồi xách đèn lồng theo nàng đến viện của Lão phu nhân.

Thu Chiếu Uyển nơi Lão phu nhân ở cách viện chính một quãng đường khá xa. Hai người đội gió lạnh vội vã bước đi, chẳng dám chậm trễ nửa phần. Khi tới nơi thì trời vừa hửng sáng, may mắn là chưa muộn giờ.

Gọi là Lão phu nhân, song Triệu thị tuổi tác cũng chưa cao, vẫn chưa đến tuổi tứ tuần. Năm xưa, Đại Triệu thị tạ thế, để lại hai người con thơ là Đàm Đình và Đàm Kiến không người chăm nom, trong khi người trong tộc lại lăm le nhòm ngó vị trí tông tử của đích chi. Đàm gia bèn bàn bạc với Triệu gia, cưới Tiểu Triệu thị về kế thất để nuôi nấng hai đứa trẻ.

Tính tình Triệu thị vốn an nhàn, những năm qua làm dâu trưởng, cáng đáng việc họ tộc vô cùng vất vả. Đợi đến khi Hạng Nghi bước chân qua cửa, bà liền giao hết mọi việc lớn nhỏ trong tộc cho nàng gánh vác.

Lúc này Triệu thị cũng vừa mới thức giấc, đang chống má tựa bên bàn, để bà tử hầu hạ chải đầu, rửa mặt. Trông thấy Hạng Nghi bước vào, bà mới miễn cưỡng tỉnh táo hơn đôi chút.

Hạng Nghi tiến lên thỉnh an.

Đúng lúc ấy, ngoài song cửa bỗng nổi lên một trận gió lớn, khiến khung cửa gỗ rung lên ken két.

Triệu thị giật mình kinh ngạc:

“Gió lớn đến vậy sao?”

Bà quay sang hỏi Hạng Nghi:

“Hôm nay ngoài trời buốt hơn rồi phải không?”

Hạng Nghi đáp:

“Vâng, mẫu thân nhớ mặc thêm áo.”

Triệu thị nói mình không đáng ngại, cùng lắm là không ra khỏi cửa, nhưng rồi bà lại sực nhớ tới người khác, liền cất tiếng gọi nha hoàn bên cạnh:

“Mau sang truyền lời cho Nhị gia và cô nương, hôm nay không cần sang đây thỉnh an nữa, kẻo lại nhiễm phong hàn.”

Nha hoàn nghe lệnh toan lui ra, Triệu thị lại sốt sắng dặn dò thêm:

“Bảo bọn họ cho đốt chậu than lên, mặc ấm vào, chớ có chạy ra ngoài gió rét. Thân thể hai đứa vốn không được khỏe, nhỡ nhiễm lạnh thì biết làm thế nào...”

Mấy ma ma hầu hạ bên cạnh đều bật cười:

“Lão phu nhân quả thật hết lòng thương yêu Nhị gia và cô nương.”

Hạng Nghi đứng bên khẽ mỉm cười. Nàng đón lấy ấm trà từ tay nha hoàn, tự tay rót một chén rồi kính cẩn dâng lên Triệu thị.

Lúc này Triệu thị mới sực nhớ ra Hạng Nghi vẫn đang lặng lẽ đứng cạnh.

“Phải rồi, tính từ hôm nay, chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là đến hôn sự của Kiến ca nhi. Con phải để tâm nhiều hơn, nhất định phải lo liệu cho thật chu toàn. Tiết trời dẫu lạnh, nhưng cuối năm lắm việc, con tuyệt đối không được sơ suất, trong ngoài đều phải quán xuyến cho thỏa đáng.”

Hạng Nghi lập tức vâng lời.

Triệu thị nhấp một ngụm trà nóng, chợt nhớ ra điều gì, bà đặt chén trà xuống, phiền muộn đưa tay xoa trán:

“Còn chuyện của Sở Hạnh Cô nữa, việc này không thể cứ dây dưa mãi được, hôm nay phải dứt điểm đi thôi. Con tự xem xét rồi liệu mà xử trí.”

Kế đó, bà lại nhắc thêm dăm ba chuyện lớn nhỏ, đều giao cho Hạng Nghi xử lý. Bất kể giải quyết ra sao, miễn sao êm thấm, đừng rước thêm rắc rối phiền hà là được.

Hạng Nghi nhất nhất vâng lời.

Bước ra khỏi phòng Triệu thị, cơn gió đông dưới mái hiên mang theo cái lạnh thấu xương ùa tới, luồn qua cổ áo, len vào da thịt.

Kiều Hạnh vội vàng kéo lại vạt áo choàng cho Hạng Nghi:

“Gió sớm lạnh buốt, phu nhân cứ về phòng trước đã, đợi gió lặng rồi hẵng ra ngoài làm việc.”

Trời đất một màu xám xịt u ám, chẳng biết đến khi nào gió mới ngừng. Hạng Nghi ngước mắt nhìn trời một thoáng, khẽ thở dài, nói không cần, rồi ngược gió bước về phía thiện đường của Đàm gia:

“Lời Lão phu nhân phân phó không thể chậm trễ, trước tiên cứ giải quyết cho xong chuyện của Hạnh Cô đã.”

Chuyện của Sở Hạnh Cô quả thực chẳng hề dễ xử lý.

Sở Hạnh Cô vốn là nữ nhi của một tú tài ở huyện Thanh Hàm. Phụ thân nàng là Sở tú tài, miệt mài đèn sách mười năm nhưng cũng chỉ đỗ tú tài. Tuy đường khoa cử lận đận, song học vấn của ông lại rất uyên bác, thậm chí còn trội hơn cả vài vị cử nhân. Nhờ người tiến cử, ông vào tộc học Đàm gia làm tiên sinh khai tâm cho con em trong tộc.

Sở tú tài dạy học ở Đàm gia ròng rã mười lăm năm, hai tháng trước một cơn bạo bệnh bất ngờ đã cướp đi sinh mạng của ông.

Sở Hạnh Cô từ nhỏ vốn có thân thể suy nhược, đường hôn nhân lại nhiều trắc trở. Nay Sở tú tài đột ngột qua đời, nàng càng bơ vơ không nơi nương tựa. Trước bao biến cố dồn dập, Hạnh Cô còn gắng gượng được, nhưng mẫu thân, người thân duy nhất nàng có thể nương tựa, lại ngã bệnh liệt giường.

Hai mẹ con đều phải dựa vào thuốc thang để cầm cự qua ngày, họ hàng thân thích thấy vậy ai nấy đều lảng tránh từ xa.

Trời đông giá rét căm căm, mái nhà dột nát chẳng có tiền sửa sang, thuốc không mua nổi, gạo trong hũ cũng đã cạn sạch. Hai mẹ con Hạnh Cô thật sự lâm vào bước đường cùng, đành phải tìm tới cửa Đàm gia, khẩn cầu Đàm gia ra tay giúp đỡ đôi phần.

Dẫu sao Sở tú tài cũng đã dạy học cho con em Đàm gia suốt mười lăm năm. Hạng Nghi sau khi biết chuyện liền thu xếp cho hai mẹ con vào ở trong thiện đường của dòng tộc, lại mời đại phu đến xem bệnh, kê thuốc cho họ.

Hai mẹ con dĩ nhiên mang ơn khôn xiết. Thế nhưng chưa được dăm ba ngày, chuyện này truyền ra ngoài, người trong tộc Đàm gia lại bắt đầu làm ầm ĩ.

“Năm xưa Sở tú tài còn sống, chính Đàm gia đã ban cho ông ta chén cơm manh áo, tháng nào cũng cấp tiền công để ông ta có thể sống yên ổn. Bằng không, một tú tài xuất thân hàn môn thứ tộc như ông ta làm sao có thể yên ổn dạy học cả đời ở Đàm gia?”

“Không biết đội ơn thì chớ, nay ông ta đã mất, thê tử con cái lại định bám lấy Đàm gia hay sao?”

Bọn họ đều một mực muốn đuổi hai mẹ con xuất thân bần hàn này đi.

Vốn dĩ thế gia vọng tộc và hàn môn thứ tộc xưa nay ít khi qua lại, chỉ khi nào con em hàn môn đỗ đạt hiển vinh, may chăng mới có thể tính chuyện thông gia cùng thế gia. Thế nhưng những năm gần đây, quan hệ giữa đôi bên ngày càng lạnh nhạt, xa cách.

Thế gia khinh thường những kẻ xuất thân bần hàn mà toan tính vụ lợi, đều cho rằng con em hàn môn dẫu có làm quan cũng đa phần luồn cúi cầu lợi, đánh mất khí tiết của kẻ sĩ. 

Còn hàn môn lại căm ghét thói cậy thế ức hiếp người của thế gia, cho rằng thế gia cậy quyền cậy thế, đến cả con đường khoa cử cũng thâu tóm trong tay, khiến con đường khoa cử của sĩ tử nghèo khó càng thêm muôn vàn gian nan.

Hàn môn người đông thế mạnh, thế gia lại nắm giữ ngôi cao. Bất kể nơi triều đường hay chốn thôn dã, đâu đâu cũng bao trùm một bầu không khí căng thẳng vô hình. Thuở trước, chuyện thế gia tiếp tế cho hàn môn vẫn thường xảy ra, nhưng nay, nếu không phải dâng thư quy phục, xin làm gia thần để được nương tựa, thế gia tuyệt đối chẳng bao giờ dang tay cứu giúp người nghèo.

Chuyện của mẹ con Sở Hạnh Cô, người trong họ Đàm gia không thuận, lại viện cớ năm nay mùa màng thất bát, bản gia không nên đem tiền của chu cấp cho người ngoài, nên đồng loạt đòi đuổi họ đi.

Những kẻ tới gây chuyện này đều là những chi thứ sống chẳng mấy dư dả, bên ngoài không có bản lĩnh tự mưu sinh, chỉ biết bòn rút tiền bạc trong tộc. Nay thấy tiền của chung đem ra nuôi người ngoài thì xót xa chẳng khác nào tiền bạc ấy bị lấy từ chính túi mình.

Ban đầu Hạng Nghi vốn chẳng buồn để ý tới bọn họ, nhưng đám người này lại kéo nhau đến tận Thu Chiếu Uyển làm phiền Triệu thị.

Triệu thị ghét nhất là phải vướng vào những việc phiền toái này. Huống hồ tình cảnh éo le như vậy, đuổi mẹ con Hạnh Cô đi thì mang tiếng quá đỗi tuyệt tình, mà giữ lại cưu mang thì đám người trong tộc lại buông lời cay nghiệt. Bà không muốn rước lấy phiền toái, liền đẩy sang cho Hạng Nghi tự liệu.

Lúc này, đám người trong tộc đã tụ tập trước thiện đường từ sớm, người năm miệng mười, bàn tán xôn xao:

“Không phải chúng ta không thông cảm cho các người, mà là năm nay ai nấy đều khó khăn chật vật, đâu phải chỉ riêng mỗi nhà các người?”

“Nói cho cùng, mẹ con các ngươi đâu phải người Đàm thị, nếu biết điều thì mau thu dọn đồ đạc mà đi cho sớm.”

Lại có một phụ nhân ngoài bốn mươi tuổi, gương mặt gầy quắt, chiếc cằm dài, ánh mắt đầy vẻ chán ghét quét qua thân hình ốm yếu của Hạnh Cô:

“Ngươi là một nữ nhi hàn môn chưa xuất giá, cứ mặt dày bám lấy Đàm gia chúng ta, rốt cuộc có ý đồ gì? Định thừa cơ trèo cao gả vào đây chắc?”

Nói đoạn, bà ta tặc lưỡi mỉa mai:

“Tốt nhất nên sớm dẹp bỏ ý định ấy đi.”

Nghe câu nói ấy, gương mặt vốn đã xanh xao của Sở Hạnh Cô lập tức trắng bệch, không còn chút huyết sắc. Mẹ nàng nghe xong thì uất ức đến mức suýt không thở nổi:

“Đàm Hữu Lương gia, bà chớ ngậm máu phun người!”

Mắt thấy đôi bên sắp sửa nổ ra một trận cãi vã, bỗng vang lên tiếng một nha hoàn cao giọng thông báo:

“Tông gia phu nhân tới!”

Đám đông toàn là người chi thứ Đàm gia, vừa thấy đương gia phu nhân của bản gia xuất hiện liền đồng loạt im bặt, ánh mắt đồng loạt đổ dồn về phía Hạng Nghi.

Phụ nhân gương mặt gầy quắt, chiếc cằm dài kia chính là vợ của Đàm Hữu Lương, kẻ có miệng lưỡi sắc bén nhất. Ban nãy, việc kéo nhau sang chỗ Triệu thị cũng do ả ta cầm đầu.

Thấy Hạng Nghi tới, ả ta liền cất giọng chất vấn:

“Tông gia phu nhân, mẹ con nhà họ Sở này đã ở nhờ nơi thiện đường của Đàm gia ba bốn ngày nay rồi. Đàm thị chúng ta là thế gia vọng tộc, chút tiền ăn ở, thuốc men ấy Đàm thị chúng ta có thể không tính toán, nhưng họ đâu thể cứ thế mà bám riết lấy nơi này mãi được?”

Phu nhân Đàm Hữu Lương nói năng đầy vẻ đường hoàng, chính trực, dứt lời còn liếc xéo Hạnh Cô một cái. Thấy Hạnh Cô mặc đồ tang, dung nhan lộ vẻ tiều tụy ốm yếu, tựa như Tây Thi ôm bệnh, bà ta lại càng thêm khó chịu.

Cũng chính vì dáng vẻ này mà đứa con trai chẳng nên thân của bà ta cứ mê mẩn không thôi.

Thật nực cười, một nữ nhi thứ tộc hèn kém, dẫu có đẹp tựa tiên giáng trần cũng đừng hòng bước chân qua ngưỡng cửa thế gia.

Phu nhân Đàm Hữu Lương vừa dứt lời, đám đông xung quanh cũng đồng loạt phụ họa, nhất quyết ép Hạng Nghi phải đuổi mẹ con Hạnh Cô đi ngay trong ngày.

Gương mặt mẹ con Hạnh Cô xám xịt, đôi tay bất an siết chặt tay nải bên người.

Ánh mắt Hạng Nghi khẽ lướt qua đám đông một lượt, rồi từ tốn cất giọng:

“Hôm nay ta tới đây chính là để nói rõ với các vị một việc: Mẹ con Hạnh Cô cứ an tâm ở lại thiện đường dưỡng bệnh, không cần phải rời đi.”

Lời vừa dứt, bốn phía lập tức xôn xao kinh ngạc. Ngay cả mẹ con Hạnh Cô cũng hoàn toàn không dám tin vào tai mình.

Phu nhân Đàm Hữu Lương lập tức cuống lên:

“Ý của phu nhân là thế nào?”

Bà ta nhìn chằm chằm Hạng Nghi:

“Lẽ nào đây là ý của Lão phu nhân?”

Bà ta toan mượn danh Triệu thị để gây sức ép, Hạng Nghi chỉ mỉm cười nhạt:

“Lão phu nhân trong người mệt mỏi, dặn ta cứ chiếu theo tộc quy mà làm.”

Nói đoạn, ánh mắt nàng lại quét qua từng gương mặt trong đám đông:

“Chiếu theo gia quy Đàm thị: Phàm là con cháu trong tộc cùng những người láng giềng có giao hảo, khi nghèo khó phải tương trợ, lúc hoạn nạn phải chở che, đau ốm phải cưu mang, cứu giúp, đó mới là đạo lý để gia tộc hưng thịnh dài lâu. Sở tiên sinh dạy học ở Đàm gia suốt mười lăm năm, lẽ nào không phải là xóm giềng giao hảo? Nay Sở tiên sinh qua đời chưa đầy trăm ngày, cô nhi quả phụ lâm cảnh khốn cùng, cớ sao Đàm thị lại chẳng thể ra tay cứu giúp? Mẹ con Hạnh Cô cứ việc tiếp tục ở lại thiện đường, mọi khoản thuốc men, chữa trị đều do trong tộc gánh vác, đợi đến khi bệnh tình thuyên giảm rồi mới dọn đi.”

Hạng Nghi vốn chẳng quen thân gì với mẹ con Hạnh Cô, nhưng Sở tú tài đã cống hiến cho Đàm gia chừng ấy năm trời, quyết không thể để thê nữ của người đã khuất rơi vào cảnh khốn cùng.

Gia quy rành rành ngay trước mắt, mọi người nhất thời không ai dám lên tiếng phản bác. Duy chỉ có phu nhân Đàm Hữu Lương là không phục, toan mở miệng tranh cãi tiếp.

Thế nhưng Hạng Nghi đã đón đầu, ung dung cất lời cảnh cáo:

“Kẻ nào còn dám cản trở việc này, tức là coi thường gia quy, ắt sẽ bị gia pháp trừng trị.”

Một trận gió cuối thu quét qua, dường như cuốn sạch bầu không khí nặng nề bao phủ thiện đường.

Những lời phu nhân Đàm Hữu Lương định nói đều nghẹn lại nơi cổ họng.

Mẹ con Hạnh Cô nước mắt tuôn rơi như mưa, run rẩy dìu nhau, toan quỳ xuống dập đầu tạ ơn Hạng Nghi.

Hạng Nghi vội đưa mắt ra hiệu cho Kiều Hạnh đỡ hai người dậy:

“Ta cũng chỉ phụng mệnh làm theo gia quy mà thôi.”

Dặn dò xong, Hạng Nghi quay sang bảo vợ chồng Đàm Khánh Sơn đang trông coi thiện đường ghi chép tỉ mỉ từng khoản chi dùng cho mẹ con Hạnh Cô vào sổ sách để tiện kiểm tra về sau.

Mọi việc đã được thu xếp ổn thỏa, Hạng Nghi cũng không nán lại lâu thêm. Nàng khẽ gật đầu chào mọi người rồi xoay người rời bước.

Gió lạnh cuốn tung những chiếc lá khô trên mặt đất.

Bóng nàng vừa khuất chưa xa, đám tộc nhân tới gây chuyện nhìn nhau, vẻ mặt đầy bất mãn, không sao kìm nén nổi cơn phẫn nộ.

Phu nhân Đàm Hữu Lương liền bực dọc thốt lên:

“Ngày trước Lão phu nhân làm dâu trưởng còn chưa từng lấy gia quy ra áp chế chúng ta, Hạng thị kia dựa vào đâu mà làm như vậy chứ?”

“Phải đấy, ả dựa vào đâu mà làm như vậy chứ? Con cháu trong họ tộc chúng ta còn chưa có ai đoái hoài, ả lại sốt sắng đi cưu mang đám thứ tộc bần hàn.”

Nghe người ta than vãn, bỗng có kẻ sực nhớ ra điều gì:

“Ta hiểu rồi, chẳng phải bản thân ả cũng xuất thân từ hàn môn thứ tộc đó sao? Thảo nào chẳng thèm thân thiết với chúng ta, chỉ coi chúng ta như phường trộm cắp mà đề phòng!”

Lời này vừa thốt ra, mọi bất mãn đối với Hạng Nghi lập tức sôi sục như nước trong chảo:

“Chẳng phải thế sao? Mỗi lần cùng quan phủ dựng lều phát cháo, ả đều là kẻ sốt sắng nhất. Chúng ta muốn kiếm chút lợi lộc từ đó, ả đều bắt ghi chép từng khoản thật rõ ràng.”

“Hóa ra ả lấy tiền của Đàm gia chúng ta đi cứu tế cho đám cùng giống cùng thứ với ả!”

“Chưa chắc số tiền ấy đã được dùng hết, biết đâu ả lại âm thầm chuyển về nhà mẹ đẻ. Dẫu sao Hạng gia cũng bị tịch thu gia sản rồi, chẳng phải đang cần tiền của Đàm gia để bù đắp cho nhà mẹ đẻ hay sao?”

Chuyện Hạng gia bị tịch biên gia sản năm xưa từng là đại án chấn động cả triều đình, người người đều biết.

Phu nhân Đàm Hữu Lương thấy mọi người đều hùa theo lời mình, liền cất giọng mỉa mai:

“Nữ nhi của một kẻ tham quan ô lại, mặt dày dựa vào mối hôn ước cũ, nhất quyết gả vào đây, đến liêm sỉ cũng chẳng màng, hạng người ấy có thể tốt đẹp được sao? Ả cứ mở miệng là đòi mọi việc phải ghi chép sổ sách rõ ràng, theo ta thấy, chỉ e sổ sách do chính tay ả quản mới là thứ không chịu nổi sự tra xét!”

Mọi người đồng loạt gật đầu phụ họa.

Thế nhưng Hạng Nghi dẫu sao cũng là đương gia phu nhân, là tông phụ của Đàm thị, đâu phải người mà đám con cháu chi thứ như bọn họ muốn tra xét sổ sách là có thể tùy tiện tra xét.

Người có đủ thẩm quyền xét sổ sách của Hạng Nghi trong phủ này vốn chẳng có mấy ai. Các vị tộc lão đức cao vọng trọng cũng chẳng rảnh rỗi đến mức xét nét sổ sách của một nàng dâu trẻ, còn Lão phu nhân Triệu thị tính tình vốn an nhàn, lại càng chẳng muốn tự chuốc thêm phiền phức.

Trừ phi tông tử của Đàm thị, Đàm đại gia Đàm Đình, trở về.

Chương trướcChương sau