Ngô Thường không ngờ Viễn Thôn lại xa đến thế.
Xa, xa vô cùng.
Trước đây nghe mẹ kể về Viễn Thôn, bà nói nơi đó không thể tìm thấy trên bản đồ. Con ngồi lên thuyền rồi sẽ hiểu vượt biển trôi sông là thế nào. Thời gian trên thuyền rất tĩnh mịch, mọi người trên thuyền đều đang gà gật, ngẩn ngơ, hoặc nôn mửa. Cả khoang thuyền lan tỏa mùi đủ loại thức ăn, hòa lẫn với mùi mồ hôi, mùi nước hoa, thứ mùi đó nhanh chóng lên men. Thật kỳ lạ. Dường như những người khác không ngửi thấy gì cả.
“Mẹ về Viễn Thôn làm gì ạ?” Ngô Thường hỏi Nguyễn Hương Ngọc.
Nguyễn Hương Ngọc suy nghĩ một lát rồi đáp: “Cả đời mẹ chỉ ngồi con thuyền như thế này hai lần, một lần là đi, một lần là... trốn.”
Trong lòng Ngô Thường, con thuyền đi đến Viễn Thôn vừa cũ vừa nát, dường như có thể hỏng bất cứ lúc nào giữa biển. Giờ đây, cô đang ngồi trên một con thuyền mới toanh, nhìn ra ngoài.
Trước khi lên thuyền, Lâm Tại Đường nhắc cô uống thuốc say sóng, cô nói tôi lớn lên ở biển, anh bảo tôi uống thuốc say sóng ư? Tôi không uống. Tôi là con gái của biển cả. Tôi quen thuộc với biển.
“Vậy cô đã từng ra khơi chưa?” Lâm Tại Đường lại hỏi.
“Anh đừng có quản.” Ngô Thường nói: “Chút sóng gió này có là gì?”
“Đi thuyền gần sáu tiếng, xuống thuyền còn phải đổi sang ca nô nữa đấy.”
“Không dài đâu.”
Thật kỳ lạ, cô là người Hải Châu, lớn lên ở Thiên Khê, nhưng lại chưa từng ra khơi. Lúc nhỏ, bà ngoại luôn kéo tay cô, bắt cô phải tránh xa vùng nước sâu, nói rằng nước biển sẽ ăn thịt người. Giờ đây, cô đang lênh đênh trên vùng biển “ăn thịt người”.
Cô vô cùng tò mò về Viễn Thôn.
Mẹ và bà ngoại không hay nhắc đến Viễn Thôn, nhưng Nguyễn Xuân Quế thì có. Bà ta nhắc đến Viễn Thôn là nghiến răng nghiến lợi, nguyền rủa Viễn Thôn bị biển cả nuốt chửng, nói rằng người Viễn Thôn không có ai tốt đẹp. Vì vậy, sau khi lên thuyền, bà ta ngồi trong một góc, đeo kính râm, tựa vào đó ngủ, không hề giao tiếp gì với Ngô Thường và những người khác.
Xuất phát được 20 phút, Ngô Thường bắt đầu cảm thấy choáng váng.
Cô tựa đầu vào lưng ghế, nhắm mắt lại. Lúc này cô cảm nhận được chuyển động của sóng biển, vì mỗi khi có sóng, con thuyền lại chòng chành một cái. Vài phút sau, Ngô Thường đã có thể dựa vào sự chòng chành để đoán xem đầu ngọn sóng đang ở đâu.
“Khó chịu không?” Lâm Tại Đường hỏi cô.
“Cũng tạm.” Cô không muốn nói chuyện, dạ dày cuộn trào, cảm giác choáng váng tấn công lên đỉnh đầu. Cô không thể mở miệng nói được nữa, vì chỉ cần mở miệng, có thể sẽ nôn ra bất cứ lúc nào.
Lông mày cô nhíu lại, trán bắt đầu lấm tấm mồ hôi. Lâm Tại Đường liếc nhìn thời gian, còn phải chịu đựng năm tiếng nữa. Anh đã uống thuốc, lại vì trước đây từng đi khảo sát nhiều lần hoặc đi cùng khách hàng ra biển nên không có phản ứng gì với chuyến đi như thế này. Ngô Thường thì không tránh khỏi khổ sở rồi.
Lâm Tại Đường lấy khăn tay ra lau mồ hôi cho cô, rồi tìm miếng dán chống say xe dán cho cô. Bây giờ Ngô Thường không từ chối nữa, cô gần như không thể cử động. Vì say sóng, tứ chi cô bắt đầu rã rời. Lâm Tại Đường dán miếng dán sau tai cô, đầu ngón tay mềm mại của anh chạm vào tai cô.
Ngô Thường thầm nghĩ muộn rồi, bây giờ dán miếng dán say sóng thì muộn rồi còn gì? Nhưng cô hoàn toàn không phát ra tiếng.
Đây là lần say sóng nghiêm trọng nhất trong cuộc đời Ngô Thường.
Ý thức cô có chút mơ hồ, tim đập rất nhanh, trong đầu toàn là hình ảnh Nguyễn Hương Ngọc. Cô nghĩ: Mẹ ơi, ngày mẹ đến Viễn Thôn, có phải cũng như thế này không?
Lâm Tại Đường lấy thuốc say sóng nhét vào miệng cô, rồi tìm một chiếc ống hút cắm vào chai nước để cô hút một ngụm nuốt xuống. Ngô Thường mặc cho anh chăm sóc, rồi ngả đầu vào vai anh.
Đây là bờ vai quen thuộc của Ngô Thường.
Lâm Tại Đường nhớ lại trước đây cũng có những khoảng thời gian không có ngăn cách, khi họ đi dạo ban đêm, cô tựa vào vai anh. Đôi khi thấy hàng xóm, anh sẽ ngại ngùng, véo nhẹ tay cô, bảo cô đứng thẳng lên một chút. Anh hơi cúi đầu nhìn gò má Ngô Thường, và đôi mày nhíu lại vì khó chịu của cô.
Nhận ra có người đang nhìn họ, anh quay lại nhìn Nguyễn Xuân Quế ở trong góc, bà ta đang nhìn ra ngoài khoang thuyền. Từ vị trí của bà ta không thể nhìn thấy họ, lưng ghế cao đã che khuất tầm nhìn.
Ngô Thường cứ tựa như vậy, sau đó dứt khoát gối đầu lên đùi anh.
Họ khởi hành vào một ngày làm việc nên không đông người. Nơi đó vốn dĩ cũng ít người biết đến, chỉ có một vài người yêu thích thám hiểm, lái thuyền đến đó và phát hiện ra Viễn Thôn đã bị thế giới lãng quên mười mấy năm. Viễn Thôn trong những bức ảnh của họ chính là dáng vẻ mà Nguyễn Hương Ngọc nhìn thấy trên mạng năm đó: khắp nơi là rêu xanh, muỗi mòng, sâu bọ, một ngôi làng cổ hoang vu, không một bóng người. Lần đầu Nguyễn Hương Ngọc nhìn thấy những bức ảnh đó, trong đầu bà toàn là hình ảnh của bà và Nguyễn Xuân Quế thời thơ ấu. Bà đã nói với Ngô Thường một hai lần: Muốn về Viễn Thôn xem sao.
Viễn Thôn trong lòng bà, dù sau này có những chuyện cũ không dám nhìn lại, nhưng cũng có hơn mười năm nương tựa vào nhau cùng Nguyễn Xuân Quế. Sau này vì đủ loại lý do, Nguyễn Hương Ngọc nhận ra rằng bà và Nguyễn Xuân Quế không thể quay lại được nữa, nên không nhắc đến chuyện về Viễn Thôn nữa.
Ngô Thường gối đầu lên đùi Lâm Tại Đường.
Cảm giác này cô rất quen thuộc.
Vào những buổi chiều cuối tuần rảnh rỗi không có kế hoạch, họ ngồi trên chiếc ghế sô pha dài ở nhà, anh đọc sách báo, cô gối đầu lên đùi anh ngủ.
Giấc ngủ này gần như không thể ngủ được, thuyền vừa lắc, những thứ trong bụng Ngô Thường lại trào ra ngoài, cô cố nén hết lần này đến lần khác, Lâm Tại Đường cứ nói mãi: “Nôn ra sẽ đỡ hơn.” Anh tìm một cái thùng rác, lấy ra một cái túi rác đưa đến bên miệng Ngô Thường, bảo cô nôn ra.
Ngô Thường thực sự không nhịn được nữa, nôn ọe một tiếng, cuối cùng cũng nôn thốc nôn tháo.
Cô dường như đã khá hơn một chút, ít nhất cũng không còn gì để nôn nữa, rồi thiếp đi trong mơ màng.
Cô bị Lâm Tại Đường vỗ nhẹ đánh thức.
Khi cô mở mắt ra, nhìn thấy ánh mặt trời chói chang ngoài khoang thuyền, cảm thấy mình cuối cùng cũng sống lại. Lúc xuống thuyền, Nguyễn Xuân Quế lạnh lùng nói: “Lão hòa thượng nói không sai, đời người quả nhiên là luân hồi. Năm đó mẹ của cô cũng vừa nôn vừa trốn khỏi Viễn Thôn như thế này đấy.”
“Sao bà biết?” Ngô Thường hỏi.
Nguyễn Xuân Quế cười một cách kỳ lạ, không nói gì.
Bà ta nhớ năm đó.
Sau khi Nguyễn Hương Ngọc bỏ trốn khỏi cuộc hôn nhân bị ép buộc, Nguyễn Xuân Quế như phát điên đi hỏi thăm tung tích của bà, nhưng biển cả trước mắt đã chặn đường bà ta. Bà ta không đi đâu được, chỉ có thể chờ đợi. Bà ta chờ thuyền, vì người trên thuyền sẽ mang về những lời đồn thổi, và tin tức của họ.
Nguyễn Hương Ngọc đã nói sẽ đưa bà ta đi, sẽ đến đón bà ta.
Bà ta ngồi bên bờ biển, không chịu đi đâu cả. Cuối cùng thuyền cũng đến. Bà ta chạy lên kéo một người lại hỏi: “Ông biết Nguyễn Hương Ngọc chứ? Cô ấy đi đâu rồi? Ông có thấy không?”
Người kia ban đầu không muốn gây chuyện, thấy bà ta thực sự đáng thương, liền nói: “Cô ấy nôn trên thuyền đến chết đi sống lại, trông như sắp mất mạng, sau đó vội vàng xuống thuyền giữa chừng. Còn bây giờ đi đâu thì không biết nữa...”
Nôn đến chết đi sống lại, sắp mất mạng.
Nguyễn Xuân Quế khắc sâu mấy chữ này, nhiều năm sau đó bà ta nghĩ: Nếu lúc đó Nguyễn Hương Ngọc chết thật thì lại hay.
Lúc này Lâm Tại Đường nhắc họ cẩn thận bậc thang, họ phải chuyển tiếp giữa chừng, có thể tìm một nơi ăn cơm trước. Nguyễn Xuân Quế đứng bên bến tàu không chịu đi vào trong, bà ta vô cùng mất kiên nhẫn, nói với giọng khác thường: “Cái nơi này có gì mà ăn? Coi chừng chọ bỏ thuốc vào cơm của conđấy! Đừng ăn ở đây! Mau tìm ca nô đi!”
Nguyễn Xuân Quế không hiểu, tại sao một nơi lòng người xấu xa như vậy, cuối cùng lại trở nên giàu có. Bao nhiêu năm qua họ đã đè nén Viễn Thôn, vì gần đất liền hơn nên luôn đi trước Viễn Thôn một bước. Bây giờ lại dựa vào việc “kinh doanh” Viễn Thôn để kiếm sống. Nguyễn Xuân Quế nhìn thấy những thứ trong ký ức liền cảm thấy buồn nôn, trên thuyền không có cảm giác gì, nhưng lúc này lại đột nhiên cúi người nôn mửa.
Lâm Tại Đường vội vàng đến đỡ bà ta, nhỏ giọng an ủi: “Mẹ, mẹ sao vậy? Có phải mệt quá không?”
Nguyễn Xuân Quế đứng thẳng dậy lau khóe miệng, trong mắt dường như có nước mắt, lớn tiếng giục Lâm Tại Đường: “Mau tìm ca nô! Đi thẳng luôn!”
“Đi thôi.” Ngô Thường nói. Cô biết đây là đâu rồi, là nơi năm đó Nguyễn Hương Ngọc và Nguyễn Xuân Quế bị bán đi, là nơi đã “sát hại” Tiểu Liên. Ngô Thường cũng không muốn ở lại đây lâu, trong lòng cô cảm thấy vô cùng khó chịu: “Mau đi thôi.”
Cho đến khi lên ca nô, sắc mặt Nguyễn Xuân Quế mới khá hơn một chút. Bà ta tự nhét một viên kẹo ô mai vào miệng, gió rất lớn, bà ta mím chặt môi.
Ngô Thường cũng không nói gì, tiếng gầm của ca nô đã thay cho ý kiến của cô, cô chỉ muốn nhanh chóng gặp bà ngoại và ông nội.
Mắt cô vẫn luôn nhìn về phía xa.
Cô chưa bao giờ biết Hải Châu lại lớn đến thế, vẫn còn có nơi cần phải ngồi thuyền lâu như vậy mới đến được. Lớn đến mức họ phải đi từ sáng sớm cho đến hoàng hôn, cuối cùng mới có thể đến nơi.
Cô nhìn thấy hoàng hôn trên biển, nhuộm nước biển thành một màu vàng óng. Dưới ánh tà dương, một ngôi làng ẩn hiện.
Lâm Tại Đường chỉ vào ngôi làng đó hỏi người lái ca nô: “Đó có phải là Viễn Thôn không?”
“Phải.”
Viễn Thôn ngày càng gần.
Ngô Thường bất giác ngồi thẳng người dậy.
Cô nhớ lại những ngày cuối đời của mẹ, người đã không còn chút sức lực. Bà nói chuyện với Ngô Thường, câu được câu chăng, nói được một lúc lại ngủ thiếp đi. Có một lần Ngô Thường nghe bà nói: Viễn Thôn... Nguyễn Xuân Quế... cũng không phải là không có những lúc tốt đẹp.
Viễn Thôn... phong cảnh rất đẹp.
Cô cảm thấy mình dường như đã đi lại con đường mẹ đã từng đi.
Khi đó bà ngoại không còn đường nào khác, đã đưa mẹ về Viễn Thôn cho bà cố chăm sóc. Bà đã ngồi thuyền đi, có lẽ cũng giống như cô, say sóng đến sống không bằng chết.
Viễn Thôn ngày càng gần.
Ngô Thường nhìn thấy hòn đảo biệt lập với thế giới, đó là hòn đảo nơi mẹ đã trải qua tuổi thơ cô đơn, hiu quạnh. Cũng là hòn đảo mà mẹ đã hoảng sợ trốn chạy, cả đời không dám ngoảnh lại.
Cô bất giác đứng dậy.
“Ngồi xuống! Nguy hiểm!” Lâm Tại Đường vội kéo cô lại, bắt cô ngồi xuống.
Lúc này Nguyễn Xuân Quế đột nhiên cười lớn, bà ta đã nhìn rõ rồi, cái Viễn Thôn đó, nó cũng chỉ là một Viễn Thôn như thế mà thôi! Bà ta tháo kính râm ra nhìn kỹ, có chút kích động nói với Lâm Tại Đường: “Con xem, năm đó, thuyền đậu ở đó! Năm đó, Nguyễn Hương Ngọc chính là chạy trốn từ đó!”
Gió biển thổi bay nước mắt của Nguyễn Xuân Quế, bà ta nhận ra mình đã thất thố, lại đeo kính râm lên. Bà ta cứ ngồi đó, rồi chìm vào im lặng. Nguyễn Xuân Quế nhận ra, rất nhiều chuyện đã trở nên mơ hồ. Bà ta thật sự đã già rồi. Bà ta nhớ lão trưởng thôn đó, đã nói với bà ta: “Đây là nhà tốt đấy, lẽ nào mày muốn ở đây chịu đói à?”
“Nhưng Tiểu Liên đã bị họ ép chết rồi. Tôi không muốn đi theo vết xe đổ của Tiểu Liên.” Nguyễn Xuân Quế nói.
“Mày không phải Tiểu Liên, Tiểu Liên không tốt, Tiểu Liên cái gì cũng không biết làm, bị nhà chồng ghét bỏ. Mày thì khác, mày xinh đẹp, giỏi giang, họ sẽ không nỡ đánh mày đâu...” Lão trưởng thôn ra sức thuyết phục Nguyễn Xuân Quế.
Mấy chục năm sau, Nguyễn Xuân Quế nghĩ đến bộ dạng ghê tởm sắp chết của lão trưởng thôn, liền nhổ một bãi nước bọt.
Ngô Thường quay lại nhìn bà ta một cái. Qua cặp kính râm, cô không nhìn thấy mắt của Nguyễn Xuân Quế, nhưng cơ mặt bà ta căng cứng, viết đầy hận thù sâu sắc. Lúc này Nguyễn Xuân Quế quay đầu lại lớn tiếng hỏi cô: “Mày nhìn cái gì mà nhìn! Mẹ mày cũng là đồng lõa!”
“Đồng lõa!”
Bà ta nói xong liền đứng dậy định nhảy xuống biển, bà ta nói: “Để tao cho mày biết tao đã trốn thoát thế nào! Để tao cho mày biết!” Bà ta kích động đến mức Lâm Tại Đường phải đứng dậy ôm chặt lấy bà ta. Bà ta lập tức im lặng trở lại, nói: “Dọa các người thôi. Mẹ không nhảy xuống đâu. Nước biển ở đây bẩn thế này cơ mà.”
Ngô Thường liếc nhìn nước biển.
Họ sắp cập bến, đường bờ biển của Viễn Thôn sạch sẽ và uốn lượn, nước biển trong xanh, không hề bẩn. Nhưng cô lại biết Nguyễn Xuân Quế đang nói về điều gì.
Người lái ca nô vất vả lắm mới đưa được mấy người họ lên bờ, nói vào bộ đàm: “Người giàu ai cũng điên thế này à? Đáng sợ quá.”
Họ đứng trên bờ, nhìn thấy một Viễn Thôn “nửa âm nửa dương”.
Ranh giới này rất rõ ràng.
Phía gần biển, đã được khai phá, sạch sẽ, trong lành, trải một con đường sỏi cuội đẹp mắt; phía dựa vào núi, là một màu xanh sẫm hoang vu. Dù cách rất xa, vẫn có thể cảm nhận được hơi lạnh âm u bên trong. Sau khi có người đi du lịch thám hiểm phát hiện ra Viễn Thôn, họ đã khai phá một nơi như vậy. Nghỉ dưỡng bên bờ biển, thám hiểm bên sườn núi.
Vậy mà cũng có người đến.
Lâm Tại Đường hỏi Nguyễn Xuân Quế: “Trước đây mẹ từng đến đây chưa?”
“Chưa, mẹ và ông nội con lần nào cũng gặp nhau ở Thượng Hải.” Nguyễn Xuân Quế nói: “Ai mà thèm đến đây chứ? Nơi này bẩn thỉu thế này cơ mà.” Bà ta lại dùng từ “bẩn”.
“Mẹ đỡ hơn chưa?” Lâm Tại Đường lại hỏi.
“Khỏe rồi.”
“Chắc chắn không?” Lâm Tại Đường có chút lo lắng cho Nguyễn Xuân Quế. Anh biết mẹ trước nay luôn có chút điên cuồng trời không sợ đất không sợ, nhưng hôm nay bà ta nói muốn nhảy xuống biển để diễn lại cảnh bà ta đã trốn thoát khỏi đây như thế nào, thực sự đã dọa Lâm Tại Đường.
Anh dường như cũng ngay lập tức hiểu được nỗi đau và sự căm hận sâu thẳm trong lòng Nguyễn Xuân Quế. Nguyễn Xuân Quế chưa bao giờ kể cho anh nghe chuyện ở Viễn Thôn, bà ta cho rằng đó là nỗi nhục của mình. Thực tế, bà ta không muốn bất cứ ai biết mình đến từ Viễn Thôn, bà ta luôn tự bịa ra thân thế của mình.
“Có chuyện gì được chứ? Mẹ từng này tuổi rồi, chẳng lẽ còn bị bắt đi được à?” Nguyễn Xuân Quế nói xong liền đi thẳng vào trong. Trong điện thoại bà ta có ghi địa chỉ mà Lâm Hiển Tổ đưa, địa chỉ này không giống như thời thơ ấu của bà ta, viết là mấy dãy nhà trước núi hay trong mép biển, bây giờ viết là “Sơn Viện”, “Hải Các”, những cái tên mà theo Nguyễn Xuân Quế là loằng ngoằng vô dụng. May mà có một tấm bản đồ, có thể chỉ cho bà ta cách đi.
Nhà cửa ở Viễn Thôn vốn cũng cũ nát, bị nước biển và gió biển ăn mòn nghiêm trọng, gió lùa mưa dột. Khi bão đến, mái nhà bị tốc lên, đó là chuyện một năm phải thấy rất nhiều lần. Ở nơi Viễn Thôn này, mạng người cũng không đáng tiền, người ra khơi thường không trở về, người ở lại cũng chết vì thiên tai nhân họa. Chính là một nơi như vậy.
Những ngôi nhà nát đó phá đi xây lại rất dễ dàng.
Vì vậy, phía gần biển, những ngôi nhà lầu kiểu Tây được dựng lên.
Trước mỗi ngôi nhà lầu đều có những người trẻ tuổi đang tắm nắng, trên bãi cát rất gần bờ biển, người ta xây một sân bóng đá, bọn trẻ con đang đá bóng trên đó. Tiếng cười vui vẻ bay đến tận bờ biển, bay lên tận trời cao.
Điều này khiến Nguyễn Xuân Quế ngẩn ngơ.
Đây còn là Viễn Thôn đó sao? Cái Viễn Thôn đổ nát, sắp chết, khắp nơi đều là mùi hôi thối đó sao?
Bà ta tiếp tục đi về phía trước, đi lên trên, cảm giác quen thuộc ập đến. Con đường dẫn đến nhà bà ngoại của Nguyễn Hương Ngọc này, thời thơ ấu bà ta đã đi đi lại lại biết bao nhiêu lần! Khi đó bà ta bụng đói meo, lần này đến lần khác đi tìm Nguyễn Hương Ngọc. Nguyễn Hương Ngọc lấy đồ ăn giấu sẵn trong túi ra nhét vào tay bà ta rồi cùng chạy ra ngoài. Cậu của Nguyễn Hương Ngọc ở sau lưng mắng Nguyễn Hương Ngọc là con ranh con hoang dã, bà ngoại Nguyễn Hương Ngọc nói: “Nó còn nhỏ thế này, con gò bó nó làm gì?”
Họ chạy một mạch lên núi, muỗi mòng bay vo ve quanh người, đôi khi còn có cả rắn. Nguyễn Xuân Quế chẳng quan tâm nhiều, ngấu nghiến nuốt lấy nuốt để, ăn xong nuốt xuống, vì nhai không kỹ, thức ăn nghẹn ở cổ họng, lúc nuốt xuống bà ta thường phải trợn trắng mắt.
Sau đó là thời gian của một ngày. Tuy còn nhỏ nhưng phải lao động. Đầu tiên là lên núi tìm củi khô, mang về nhà để nhóm lửa. Tiếp đó là đi bắt hải sản ven biển, những thứ nhặt về có thể lấp đầy bụng. Người Viễn Thôn đã không còn thích ăn hải sản nữa, họ nhìn thấy hải sản là buồn nôn. Họ thích ăn gạo, bột mì trắng, trứng, gà vịt, thịt lợn, nhưng những thứ đó ở đây rất hiếm, phải đợi khi có thuyền đến, mua một chút, ăn cho đỡ thèm.
Khi đó Nguyễn Xuân Quế mong nhất là dì Diệp đến.
Dì Diệp xinh đẹp, yếu ớt, từ con thuyền đó bước xuống. Lần nào cũng ăn mặc sạch sẽ, nhưng nét mặt tiều tụy. Trên tay dì ấy xách một cái giỏ, trong giỏ lần nào cũng có đồ ăn. Dì Diệp sợ nhà bọn họ đông người, hai người sẽ không được ăn, sẽ hẹn trước thời gian dì ấy trở về, có khi một tháng, có khi hai tháng. Ngày dì ấy về, họ đã sớm đợi trên núi, hoặc bên bờ biển, thấy dì ấy xuống thuyền, họ liền lao tới. Dì Diệp đưa họ đến nơi không có người, trước tiên cho họ một ít đồ ăn, rồi bảo họ giấu một ít đi, sau đó mới từ từ đi về.
Anh trai của dì Diệp luôn mắng dì ấy là sao chổi, nói rằng nhà giàu ở Ôn Châu đến tìm họ đòi người, là chính ông ta đã quỳ xuống van xin, họ mới tha cho ông ta.
“Chuyện đã bao nhiêu năm rồi?” Dì Diệp luôn nói như vậy: “Tại sao tôi phải đến Ôn Châu? Không phải là anh lén mẹ bán tôi đi sao? Làm mẹ tức đến phát bệnh.”
Anh trai dì ấy sẽ không nói gì nữa.
Anh trai dì ấy bây giờ sợ em gái, dù sao đi nữa, em gái về có thể mang về miếng ăn, để lại vài đồng, đủ cho họ sống qua ngày.
Những chuyện này Nguyễn Xuân Quế đều nhớ lại cả.
Quả nhiên, cuối cùng họ dừng lại trước cửa ngôi nhà cũ của nhà họ Nguyễn. Họ đưa tay gõ cửa, bên trong có một người quản gia trẻ tuổi ra mở cửa, hỏi họ tìm ai?
“Ông Lâm Hiển Tổ, bà Diệp Mạn Văn.” Lâm Tại Đường nói.
“Hai ông bà đang ngủ. Mọi người phải đợi một lát.” Người quản gia nói: “Gần đây hai ông bà rất hay buồn ngủ, nói rằng nắng ở đây tốt, thích hợp để ngủ.”
Lâm Tại Đường gật đầu, ngồi xuống bộ bàn trà được dựng trong sân. Nguyễn Xuân Quế cũng ngồi xuống, bà ta nhìn quanh tứ phía, sợ rằng người cậu sau này biến thành ác quỷ của Nguyễn Hương Ngọc sẽ đột nhiên lao ra từ đâu đó. Sau đó bà ta nghĩ: Lão già chết tiệt đó cũng chết sớm rồi. Bà ta còn sợ gì nữa? Thế là cuối cùng không nhìn quanh nữa.
Ngô Thường không ngồi xuống, cô nhìn vào trong qua cửa sổ sát đất, thấy trong phòng khách rộng lớn, có hai chiếc ghế bập bênh: một chiếc của bà ngoại, một chiếc của ông nội. Đầu họ đều nghiêng sang một bên tựa vào lưng ghế, há miệng ngủ. Chỉ cần họ hơi cử động, chiếc ghế bập bênh sẽ chuyển động. Chắc hẳn họ rất sợ lạnh, Ngô Thường nghe nói người già đều sợ lạnh, vì cả hai người đều mặc một chiếc áo khoác, trên chân đắp một tấm chăn len.
Ánh hoàng hôn muộn màng này cuối cùng cũng sắp lặn xuống.
Ánh sáng từ từ biến mất trên khuôn mặt họ. Ban đầu là vầng trán tối sầm lại, tiếp đó là đôi mắt, cánh mũi, cuối cùng là cả khuôn mặt. Ngô Thường cứ im lặng nhìn hồi lâu như vậy. Cô không muốn làm phiền họ, chỉ muốn ghi nhớ khoảnh khắc yên bình tốt đẹp này.
Bà ngoại là người mở mắt trước.
Bà từ từ mở mắt ra, thấy có một người đứng trước cửa sổ, bà giật mình, hét lên một tiếng: “Ma!”
Lâm Hiển Tổ bị đánh thức, tiện tay vơ lấy cuốn sách bên cạnh định ném, miệng nói: “Đừng đến đón tôi bây giờ, vài tháng nữa đi!” Ông tưởng Diệp Mạn Văn nhìn thấy Hắc Bạch Vô Thường.
Ngô Thường ở bên ngoài cười, rồi lớn tiếng gọi: “Bà ngoại! Là con đây! Thường Thường đây!”
Diệp Mạn Văn dụi mắt, mơ màng, tự lẩm bẩm: “Hương Ngọc, sao Thường Thường thoắt cái đã lớn thế này? Cho ăn cám heo à?” Ký ức của bà bây giờ đang ở thời điểm không lâu sau khi Ngô Thường chào đời.
Lâm Tại Đường và Nguyễn Xuân Quế theo người quản gia vào nhà, anh thấy Lâm Hiển Tổ đã gầy đến không còn ra hình người, xương ở các khớp đều lồi ra, mới bao lâu mà dung mạo đã thay đổi nhiều đến vậy.
Trong lòng Lâm Tại Đường dâng lên một nỗi bi thương, nhưng anh nén lại nỗi buồn, cười nói: “Ông nội, chúng cháu không nghe lời, đã tự ý đến thăm ông.”
Lâm Hiển Tổ chỉ vào Nguyễn Xuân Quế nói: “Cô đấy cô đấy, sao đến già rồi mà vẫn không biết lo liệu thế hả?”
Nguyễn Xuân Quế bướng bỉnh quay mặt đi, mắt đánh giá xung quanh.
Nơi này không còn bất kỳ dấu vết nào của quá khứ. Khi bà ta quay đầu lại, Ngô Thường đã lao vào lòng Diệp Mạn Văn, không ngừng nói: “Bà ngoại, cháu nhớ bà quá. Bà ngoại, cháu đưa bà về nhà nhé?”
Diệp Mạn Văn hỏi cô: “Tại sao cháu gọi ta là bà ngoại? Con gái ta vẫn còn ở Viễn Thôn, là một cô bé con. Cháu đừng có nhận nhầm người.”
Ngô Thường liền ngừng lại, hỏi: “Tại sao bà lại đưa con gái mình về Viễn Thôn ạ? Bà không nhớ con gái bà sao?”
Lúc này Diệp Mạn Văn lau nước mắt, nghẹn ngào nói: “Không có ai chăm sóc nó, ta chăm sóc nó thì chúng ta sẽ không có cơm ăn, sẽ chết đói mất. Tiểu Hương Ngọc của ta, còn nhỏ như vậy. Ta nhớ tiểu Hương Ngọc của ta quá...”
Trong lòng Diệp Mạn Văn, đời người không có trở ngại nào là không thể vượt qua. Duy nhất một việc khiến bà hối hận cả đời, chính là đưa cô con gái Hương Ngọc yêu dấu của mình về Viễn Thôn. Khi đó bà đã bị dồn vào đường cùng, không còn cách nào khác, chỉ có thể dựa vào một người mẹ già yếu ớt.
Diệp Mạn Văn bật khóc nói: “Ta nhớ tiểu Hương Ngọc của ta quá...”
Ký ức của bà quay trở lại những năm 70 của thế kỷ trước, những năm 70 xa xôi, những năm 70 đau khổ.
Bà khóc, Ngô Thường cũng khóc, hai người ôm nhau khóc nức nở.
Một người đang nhớ con gái, một người đang nhớ mẹ, tiếng khóc cũng cùng một tần số.
Sau đó Diệp Mạn Văn nín khóc, bà hỏi Ngô Thường: “Cháu khóc cái gì vậy?”
Ngô Thường cũng nín khóc, nói: “Cháu mau nước mắt, thấy người khác khóc là cháu cũng muốn khóc.”
“Vậy chồng cháu tại sao lại khóc?”
Ngô Thường quay lại nhìn Lâm Tại Đường, vô thức nói: “Anh ấy không phải chồng cháu, anh ấy là...”
“Chồng cũ.” Lâm Tại Đường thản nhiên trả lời rồi ngồi xổm xuống, nhìn Diệp Mạn Văn: “Bà ngoại, bà còn nhớ cháu không?”
Diệp Mạn Văn chớp mắt suy nghĩ, nói: “Ta nhớ cháu chứ, Bộc Quân Dương.”
Trong thế giới của Diệp Mạn Văn, mọi ký ức đều hỗn loạn. Thời gian trong tòa cung điện đó đã bị xé bỏ, những cuốn sách bên trong có thể lật xem bất cứ lúc nào, nhưng đã không thể phân biệt được nó được viết vào năm nào. Bác sĩ từng nói với Ngô Thường: Đến giai đoạn này, khả năng vận động của bà sẽ ngày càng kém đi, tính tình của bà sẽ thay đổi một trời một vực.
Bà ngoại thực sự sắp già đi rồi.