Chương 3: Cuộc sống mà tôi mơ ước  

Chương trước Chương trước Chương sau

Suốt đường về, Minh Nguyệt cứ nghĩ mãi về giọng nói của Lý Thu Tự, dường như con người cô vốn đang say ngủ, bỗng bị giọng nói ấy đánh thức.

Cô về đến nhà, khóa xe đạp lại rồi vào bếp múc nửa gáo nước giếng uống cho đã khát. Lau miệng xong, cô mở nắp nồi lấy chiếc bánh xếp rau bà nội Dương Kim Phượng rán từ sáng. Bánh xếp đã ỉu xìu, nhão cả ra, bên dưới là nồi cháo ngũ cốc. Minh Nguyệt đậy vung lại rồi ra ngoài tìm Đường Đường.

Đường Đường đang chơi ở nhà thím Triệu. Nhà thím có hai đứa trẻ, chồng, con trai và con dâu thím đều đi làm xa. Một nhà có tới ba người kiếm tiền nên kinh tế khá giả, bọn trẻ con lúc nào cũng có đủ thứ quà vặt và các loại sữa để uống.

Đường Đường rất thích lượn lờ sang nhà thím Triệu. Hễ sang là con bé lại nhìn chòng chọc vào mấy thứ đồ ăn thức uống của nhà người ta. Người lớn ngại mặt mũi, cũng sẽ cho nó một cái bánh gạo tuyết hay thứ gì đó. Nhưng nó đến nhiều quá, thím Triệu cũng không vui, dù là bà con nghèo đến ăn chực thì cũng đâu có ai đến cửa mỗi ngày.

Hai đứa trẻ kia đang uống sữa AD Canxi, hết chai này đến chai khác. Thím Triệu rất chiều con cháu, chúng muốn gì là mua nấy. Đường Đường ngồi xổm dưới gốc lựu chơi chiếc ô tô điều khiển từ xa của người ta. Nước mũi trong của cô bé chảy ròng ròng, ngứa mũi thì lấy tay áo quệt một cái, dính nhớp kéo thành sợi dài. Người ta uống sữa chẳng mời, cô bé cứ chốc chốc lại ngẩng lên nhìn một cái, rồi lại liếc một cái. Nhìn mấy lần như vậy, Đường Đường bèn mon men đến gần hỏi:

“Có chua không ạ?”

Đứa trẻ không thèm để ý, ngồi trên ghế tiếp tục cắn ống hút.

“Cháu ngửi thấy có mùi gì ấy.”

Ống hút bị cắn bẹp rúm, đứa trẻ tuột khỏi ghế, chạy vù sang chỗ khác. Đường Đường đi theo, nó lại chuyển chỗ. Cuối cùng, nó đẩy Đường Đường một cái. Đường Đường cũng không giận, đợi người ta vứt cái chai đi, cô bé liền chạy theo lượm cái chai đang lăn lóc.

Thím Triệu hầm xong sườn rồi, thơm nức mũi. Thím dọn chiếc bàn gỗ nhỏ ra, cả nhà ba người ngồi ngoài sân gặm sườn. Đứa con gái lớn hơn chê mỡ ngấy, nhân lúc bà không để ý, nó ném cho con chó đang vẫy đuôi dưới chân.

“Ối giời đất ơi!” Thím Triệu trông thấy, liền đá con chó văng ra. Nhưng muộn rồi, con chó nén đau không kêu, ngoạm miếng thịt chạy biến đi. Đường Đường nhìn mà chỉ muốn được làm một con chó nhỏ.

Cô bé vịn vào mép bàn, nói: “Cháu ăn được thịt mỡ ạ.”

Mặt thím Triệu sa sầm lại như có thể cạo ra một lớp sương giá, thím xỉa răng: “Mày ăn được mỡ thì về nhà bảo Dương Kim Phượng nấu cho mà ăn.”

Cả nhà ba người lại tiếp tục gặm sườn.

Đường Đường nhìn một lúc rồi lại ngồi xổm xuống gốc lựu chơi ô tô.

Cả sân thơm nức mùi sườn. Thím Triệu gặm xong một miếng liền xuýt xoa gọi con chó. Con chó chẳng thèm để bụng cú đá của chủ, lon ton chạy lại, tha miếng xương ra góc tường chuyên tâm gặm. Đường Đường cứ thế ngẩn ngơ nhìn con chó.

Minh Nguyệt đoán là Đường Đường đang ở đây. Cổng nhà mở toang, vừa bước vào là cô đã thấy con bé.

Thím Triệu thấy Minh Nguyệt cũng chỉ liếc một cái rồi không nói gì. Cùng một làng, trừ phi có thù oán, chứ làm gì có chuyện không chào hỏi nhau? Minh Nguyệt thấy khó xử vô cùng, bèn gọi Đường Đường:

“Chỉ biết chơi thôi, mau về nhà ăn cơm.”

Đường Đường không nhúc nhích, Minh Nguyệt đành phải đi tới gốc lựu kéo em dậy. Mấy bước chân ngắn ngủi ấy sao mà xa xôi quá.

Cô hiểu, nhà thím Triệu đã sớm chán ghét Đường Đường lắm rồi. Đường Đường còn nhỏ, cô bé chỉ biết nhà người ta có nhiều đồ ăn ngon, nhiều đồ chơi vui.

Gia đình thím Triệu vẫn ngồi đó gặm sườn, từ đầu đến cuối không thèm nhìn hai chị em cô lấy một cái, cũng chẳng nói một lời nào.

Minh Nguyệt dắt tay Đường Đường, bước ra khỏi khoảng sân mới được sửa sang lại ấy.

“Chị ơi, đồ ăn ngon trong cửa hàng đều bán hết cho nhà thím Triệu rồi ạ?”

Minh Nguyệt buồn bã trong lòng, không nói gì.

“Chị ơi, con chó nhà thím Triệu cũng được ăn thịt nữa.”

Minh Nguyệt thấy thật phiền.

“Chị ơi, chị uống sữa AD Canxi bao giờ chưa?”

Minh Nguyệt đột nhiên giật tay em ra, mặt đỏ bừng vì tức giận: “Chị đã nói với em bao nhiêu lần rồi, đừng có sang nhà người ta nữa. Nhà mình có cơm, em cứ không nghe lời, cứ phải chạy sang nhà người ta cho người ta ghét. Rồi sau lưng người ta lại nói bà nội, sao em chẳng biết thương người chút nào thế?”

Đường Đường mới bốn tuổi, cô bé ham ăn, miệng nhạt. Cô bé như một con thú nhỏ, chỉ biết tìm gì đó để ăn, tìm gì đó để chơi. Thấy chị nổi giận, cô bé sợ hãi, nhưng cô bé biết chị sẽ không đánh mình nên không khóc, chỉ rụt rè kéo tay Minh Nguyệt.

Minh Nguyệt bật khóc. Cô bế Đường Đường lên, một tay lau nước mắt, nói: “Mình đừng đến nhà người ta nữa có được không? Sau này chị kiếm tiền mua sữa, mua đồ ăn ngon cho em.”

Hôm nay phải mua ngay.

Cô dẫn Đường Đường ra tiệm tạp hóa mua một chai sữa, một gói bánh quy kẹp kem, một túi kem tuyết hoa, còn thừa lại ba đồng. Mười đồng tiền thật có ích biết bao. Cô lại nghĩ đến Lý Thu Tự, anh nói chuyện nghe thật hay. Minh Nguyệt vô cùng hối hận vì đã mắng Đường Đường, cô thề sẽ không bao giờ quát mắng em gái nữa, Đường Đường đã rất đáng thương rồi.

Hai chị em về đến nhà, Minh Nguyệt đưa con gấu trúc bông cho Đường Đường. Đây là món đồ chơi đầu tiên của cô bé. Ở nhà cũng có không ít đồ chơi nhỏ do Lý Vạn Niên đan, nào là châu chấu, vịt con, nhưng so với những món đồ chạy bằng điện cao cấp thì lập tức trở nên mờ nhạt, không đáng để khoe ra.

Đường Đường ôm con gấu trúc, hôn lấy hôn để, rồi hỏi Minh Nguyệt có thể ôm nó ra ngoài chơi không. Cô bé mới bốn tuổi, còn rất nhỏ, nhưng đã có ham muốn khoe khoang rồi.

Dương Kim Phượng từ nhà cô của Minh Nguyệt trở về, sắc mặt không tốt. Cô ấy gả đến một thị trấn cách đây ba mươi dặm, ngày nào cũng cãi nhau với chồng, anh chửi tôi, tôi chửi anh. Cô ấy giận chồng chỉ biết uống rượu đánh bài, không chịu phấn đấu, trong nhà mấy miệng ăn đang chờ, một gã đàn ông to xác mà trong túi rỗng tuếch như cái bát chó liếm, không có một xu, thật mất mặt. Nhưng người là do cô ấy tự chọn, hễ buồn là cô ấy lại khóc, khóc trời khóc đất, đập đùi than thân trách phận rằng mình lúc đầu đã mù mắt.

Đàn ông với đàn bà lúc nào cũng cãi nhau. Vợ chồng Lý Xương Thịnh cũng cãi, thật đáng sợ. Vợ chồng lúc hung dữ lên thì như kẻ thù, đều mong đối phương chết đi, chết ngay lập tức. Minh Nguyệt còn là một đứa trẻ, chẳng dám thở mạnh. Bàn trà, cốc chén, những thứ có thể đập được đều bị hai vợ chồng đập vỡ hết, đập xong lại bắt Minh Nguyệt dọn dẹp.

Cô nghe mà đầu óc ong ong, nhưng bố mẹ cãi nhau xong lại thân mật cùng nhau ăn cơm, đi ngủ. Ông nội từng nói, sống với nhau đều như vậy cả. Cũng có những cặp cãi nhau kịch liệt, người vợ đi thắt cổ, lấy tính mạng mình để trừng phạt cả nhà chồng, con cái người lớn, đều không cần nữa. Người chết rồi, kèn trống ầm ĩ một hồi, rồi những người phải sống tiếp, vẫn cứ sống như vậy.

“Cô đỡ hơn chưa ạ?” Minh Nguyệt lấy nước cho Dương Kim Phượng rửa tay.

Dương Kim Phượng cầm lấy chiếc khăn mặt phủi bụi trên áo: “Trẻ con hỏi gì mà hỏi, cho gà ăn chưa?”

Trong nhà có gà, có dê, trong chuồng còn có một con lợn béo ú. Việc vặt quá nhiều, Dương Kim Phượng vừa mở mắt ra là phải bận rộn. Minh Nguyệt đi học về là có thể phụ giúp một tay. Dương Kim Phượng không nỡ để cô làm nhiều, Minh Nguyệt còn phải ôn bài. Trẻ con quan trọng nhất là phải học cho giỏi, không học giỏi thì mọi thứ đều vô ích.

“Bà ơi nhìn này!” Đường Đường ôm con gấu trúc từ ngoài vào. Dương Kim Phượng hỏi: “Lấy đâu ra đấy?”

Minh Nguyệt không dám hó hé, chuyện cô chạy đến Lễ Đường bà nội không hề biết.

Quả nhiên, Dương Kim Phượng mắng Minh Nguyệt một trận xối xả: “Mấy đồng bạc mà mày chạy đi cả buổi, làm giàu được chắc?”

Minh Nguyệt cúi đầu nhìn mũi giày: “Buổi chiều cháu làm bài tập, không chậm trễ việc gì đâu ạ.”

Dương Kim Phượng nói: “Còn cãi à? Tao chẳng cần mày làm gì hết, mày học cho giỏi còn hơn làm bất cứ việc gì. Học không giỏi thì chỉ có đi làm công nhân, rồi lại giống như cô út của mày, lấy phải thằng đàn ông mù quáng mà sống, cả đời coi như bỏ!”

Trong lòng Minh Nguyệt có rất nhiều thắc mắc, cũng không có ai giải thích cho cô hiểu.

Cô không nhịn được nói: “Đi làm công nhân thì có gì không tốt ạ? Mẹ của Phạm Hiểu Vân làm ở Foxconn kiếm được nhiều tiền hơn cả thầy giáo của chúng cháu, một tháng bằng thầy làm gần nửa năm.”

Dương Kim Phượng lạnh lùng: “Phạm Hiểu Vân nói à? Cái con bé đó không lo học hành, mày là đứa thật thà, nó nói gì mày cũng tin à?”

Minh Nguyệt nói: “Nhà thím Triệu ai cũng đi làm công nhân, nhà người ta còn xây lại nhà mới rồi. Nếu phải học đại học mới được lên thành phố kiếm tiền, thì đi làm công nhân không được sao ạ?”

Lòng cô rất mông lung, rốt cuộc tại sao phải học cho giỏi?

Dương Kim Phượng chưa từng đi làm công nhân, cũng không biết tình hình trong các nhà máy ở Quảng Đông rốt cuộc ra sao, bà gắt: “Đi làm công nhân dễ dàng lắm à? Ngày nào cũng ở trong nhà máy bán sức, giống như làm việc đồng áng, mệt chết mệt sống. Người ta học đại học giỏi thì sẽ không phải chịu khổ cực như vậy!”

Minh Nguyệt không nói nữa, trong lòng cô cũng tức anh ách. Bà nội cũng có thấy bao giờ đâu, sách nói mắt thấy là thật, tai nghe là giả, xem ra bà nội cũng chỉ tự mình nghĩ vậy thôi.

Dương Kim Phượng ăn vội hai miếng cơm, xách hai thùng nước, chất lên xe ba bánh. Bà phải đi nhổ dây khoai lang trước rồi mới ra ruộng ở Đông Hồ để trồng. Đây là việc của hai người nhưng bà không cho Minh Nguyệt đi.

“Đường Đường, qua một bên chơi đi, đừng làm phiền chị cháu học.” Dương Kim Phượng dặn dò Đường Đường.

Thế là Đường Đường lại ôm con gấu trúc đi tìm người chơi.

Trong sân lại tĩnh lặng, chỉ còn lại Minh Nguyệt. Lòng cô lúc nào cũng cảm thấy u sầu, hoang mang, không biết tỏ cùng ai, ngay cả nói chuyện với chú cừu con cũng không được nữa.

Bà chỉ có một mình, đi trồng nhiều dây khoai như vậy, tất cả chỉ để cho cô được học hành. Cô cảm thấy tội lỗi, dường như nếu không học đến chết, lãng phí một chút thời gian thôi, cũng là vô cùng có lỗi với những vất vả cực nhọc của bà. Bà nội luôn nói, học là học cho chính mình. Minh Nguyệt biết không phải vậy, cô học là vì bà, để bà thất vọng đau khổ, cô sẽ càng thêm dằn vặt.

Cô thật ngưỡng mộ Trương Lôi, dường như Trương Lôi học là vì chính mình. Minh Nguyệt ngồi trong sân làm bài tập, mây trên trời trôi qua đỉnh đầu, mặt trời cũng lặn dần, ánh tà dương đuổi đến tận núi Tây, một ngày cứ thế đi về phía cuối.

Trương Lôi ngày nào cũng học, đi vệ sinh cũng phải tranh thủ từng giây, không bao giờ nói chuyện phiếm với ai.

Cô ấy như một món đồ chơi lên dây cót, cứ nhảy mãi, mà cũng không cần ai phải vặn dây cót thêm. Minh Nguyệt cảm thấy cô ấy học đến phát điên rồi.

Muốn vượt qua Trương Lôi, khó đến nhường nào, nhưng nếu thật sự vượt qua được Trương Lôi, sẽ tự hào biết bao. Minh Nguyệt có vô vàn suy nghĩ. Trương Lôi đang học ở đó, sao cô có thể cả gan rời chỗ ngồi đi tìm người khác nói chuyện được? Minh Nguyệt lặng lẽ bắt theo nhịp độ của Trương Lôi.

Kỳ thi môn tiếng Anh định kỳ, Trương Lôi đứng nhất, Minh Nguyệt đứng thứ ba. Điều này thật khiến cô vui mừng khôn xiết, cô chưa bao giờ giỏi đến thế. Thầy giáo cũng rất ngạc nhiên, nói gần mực thì đen, gần đèn thì rạng, tiềm năng của Minh Nguyệt là vô hạn. Minh Nguyệt lại thấy lo, cô chưa bao giờ thi tốt như vậy, thực ra cũng chẳng làm gì nhiều, chỉ là ngày nào cũng học thuộc bài, viết từ mới, làm đề thầy giáo in. Lần này thi tốt như vậy, sau này thi không tốt thì xấu hổ biết bao?

Chỉ có thể cố gắng hơn nữa.

Thái độ của Trương Lôi đối với cô cũng hòa hoãn hơn một chút, dường như Minh Nguyệt tiến bộ rồi mới có tư cách làm bạn cùng bàn với cô ấy. Trương Lôi rất kiêu ngạo, không coi ai là bạn, cô ấy thấp bé nhưng rất xinh đẹp, tính tình không tốt lắm nhưng lại là con cưng của các thầy cô.

Thầy giáo Ngữ văn ra một bài tập làm văn, đề là “Cuộc sống mà tôi mơ ước”. Trương Lôi mong được đến Mỹ học đại học, vào một trường danh tiếng. Thầy giáo đọc bài văn của cô ấy, hết lời khen ngợi. Trương Lôi thích dùng các biện pháp tu từ, các câu trùng điệp tạo khí thế. Thầy giáo nói đọc nhiều sách thì trong bụng có chữ, không sợ viết không ra.

Trương Lôi liếc qua vở văn của Minh Nguyệt, nói: “Sao điểm của cậu thấp thế, viết cái gì vậy? Tớ xem được không?”

Minh Nguyệt đưa cho cô ấy xem, Trương Lôi đọc xong nhíu mày: “Lớn lên cậu muốn làm người kể chuyện à?”

Minh Nguyệt thực sự không có lý tưởng gì lớn lao, cô chỉ muốn sống một cuộc sống tốt đẹp cùng bà nội và Đường Đường. Đây có được gọi là lý tưởng không? Tương lai làm gì, cô hoàn toàn không có định hướng. Nghĩ tới nghĩ lui, cảm thấy nghề kể chuyện cũng được, bèn viết về những chuyện hồi nhỏ với ông nội Lý Vạn Niên.

Minh Nguyệt nói: “Được đến hội kể chuyện ở Hoa Kiều Tử kể chuyện thì thú vị lắm.”

Trương Lôi nhìn cô với vẻ khó tin.

Minh Nguyệt lại nói: “Làm thợ mộc cũng được. Cậu đã đến Bắc Kinh bao giờ chưa? Tớ thật sự muốn điêu khắc Vạn Lý Trường Thành và Cố Cung.”

Trương Lôi lạnh lùng nói: “Cậu thật chẳng có chí tiến thủ gì cả, chỉ biết kể chuyện với làm thợ mộc. Nếu cậu ra thành phố một vòng thì sẽ hiểu mình nực cười đến mức nào.”

Minh Nguyệt hỏi: “Cậu đã ra thành phố rồi à?”

Trương Lôi nói: “Nghỉ hè tớ đã đến Tô Châu. Tô Châu có một khu công nghiệp rất lớn, có thể làm ăn với cả Singapore. Cậu biết Singapore chứ? Trong sách Địa lý có nói đấy. Mẹ tớ còn đưa tớ đến thăm nhà cũ của Diệp Thánh Đào, cậu còn nhớ Diệp Thánh Đào không?”

Trương Lôi thao thao bất tuyệt, kể hết những gì mình đã thấy.

Minh Nguyệt nghe mà nửa hiểu nửa không: “Vậy Tô Châu tốt hơn hay Quảng Châu tốt hơn? Phạm Hiểu Vân nói Quảng Châu là nơi kiếm được nhiều tiền nhất, có cả Foxconn.”

Trương Lôi chưa từng đến Quảng Châu, nhưng trong làng cô ấy cũng có nhiều người ở Quảng Châu. Cô ấy nói với vẻ mặt nghiêm túc: “Foxconn chỉ là một nhà máy cho công nhân thôi, không cần phải ngưỡng mộ những người làm công nhân. Nếu muốn ngưỡng mộ, thì cũng nên ngưỡng mộ những người quản lý, làm những công việc cao cấp ở Foxconn ấy.”

Minh Nguyệt càng không hiểu: “Công việc cao cấp là gì?”

Trương Lôi chỉ vào đầu cô: “Những việc làm bằng đầu óc thì là công việc cao cấp. Những người chỉ biết bán sức lao động thì cũng giống như súc vật, giống như trâu kéo cày vậy, cậu muốn giống súc vật sao?”

Trương Lôi đặc biệt tận hưởng cảm giác dạy dỗ người khác. Bạn học thì lười biếng ngu ngốc, thầy cô thì năng lực có hạn. Cô ấy khao khát những thành phố lớn. Ngay từ khi còn học tiểu học, cô ấy đã nhận ra rằng mảnh đất này thật đáng ghét, thật vất vả. Cô ấy không biết làm thế nào để thoát ra, cho đến khi đến Tô Châu. Nhưng Tô Châu thiên đường ấy cũng ẩn giấu những căn phòng trọ tồi tàn, nơi ở của những người làm công nhân bẩn thỉu, thô tục, và mẹ cô là một trong số đó. Trương Lôi khám phá ra một bí mật rất quan trọng, hóa ra những người cuối năm trở về trông có vẻ khá giả, thực chất ở thành phố vẫn sống một cuộc sống như chó lợn. Nhưng chó lợn ở thành phố vẫn còn tốt hơn chó lợn ở nông thôn.

Cô ấy không muốn làm súc vật ở nông thôn, cũng không muốn làm công nhân ở thành phố. Cô ấy muốn trở thành người thành phố.

Ý nghĩ này thiêu đốt cô ấy đến khó chịu. Giấc mơ này kích thích cô ấy tạo ra vô số sức mạnh, giống như một dây leo, uốn lượn vươn lên một cách liều mạng. Nhưng cô ấy đang ở trong một cái hố rất sâu, muốn vươn ra ngoài không biết phải trả giá bao nhiêu. Cô ấy cảm thấy không ai có thể hiểu được mình, ngay cả thầy cô cũng không. Trương Lôi không thực sự tôn trọng giáo viên, giáo viên ở một thị trấn nhỏ thì có thể có bao nhiêu kiến thức chứ?

Cô ấy càng coi thường bạn học của mình hơn, giống như ngay lúc này, cô ấy kinh ngạc trước sự vô tri, ngây thơ và tư duy ếch ngồi đáy giếng của Minh Nguyệt.

Minh Nguyệt không muốn làm súc vật. Súc vật phải lao động cả đời, về già thì bị người ta bán đi, ăn thịt. Súc vật rơi vào tay con người, chỉ có ý nghĩa về mặt thịt.

Nhưng cô cũng không thực sự muốn rời khỏi làng Tử Hư. Điều cô phiền não, cũng không ai có thể trả lời cho cô, tại sao phải ra ngoài làm công nhân mới kiếm được tiền? Tại sao phải rời xa quê hương mới có thể sống một cuộc sống tốt đẹp?

Cô hỏi Trương Lôi: “Những người có nhà ở Tô Châu có phải đi làm công nhân không?”

Trương Lôi nói: “Người dân thành phố dĩ nhiên không cần, họ vốn đã có công việc tốt rồi.”

Minh Nguyệt thật ngưỡng mộ họ, không cần rời xa nhà mà vẫn có thể kiếm được nhiều tiền để sống tốt. Tại sao bọn họ lại phải rời xa nhà mới được? Ông trời thật không công bằng.

Trương Lôi gần như dùng một giọng điệu thương hại để nói với Minh Nguyệt: “Nếu cậu có thể thi đỗ đại học, làm việc ở thành phố, cậu sẽ trở thành người dân thành phố. Con cái của cậu cũng sẽ được đi học ở thành phố, sau này đời đời kiếp kiếp đều là người thành phố.” Cô ấy cảm thấy bạn học của mình hoàn toàn không có khả năng suy nghĩ đến bước này. Cô ấy chịu nói với Minh Nguyệt, chỉ vì cô ấy cảm thấy thành tích của Minh Nguyệt khá hơn một chút, có lẽ có thể hiểu được ý của cô ấy.

Đời đời kiếp kiếp làm người thành phố, đó là một lý tưởng vô cùng cao cả, Trương Lôi nghĩ vậy.

Minh Nguyệt im lặng. Cô có rất nhiều câu hỏi, giống như những bông tơ liễu bay trong gió xuân, bị gió xuân xua đuổi, áp đặt, không có phương hướng, không có kết cục.

Mùa xuân sắp tàn. Minh Nguyệt tan học đạp xe qua những con đường mòn giữa ruộng, cô nhìn thấy điều đó, bởi vì những cánh đồng lúa mì bằng phẳng mênh mông đã xanh đến tận cùng, chuyển sang màu vàng nhạt. Biển lúa mì dập dờn, một biển xanh được thời gian đổi màu. Cánh đồng lúa mì ấy quá rộng lớn, quá xa xôi, trải dài đến tận chân trời không thể nhìn thấy. Đất đai quá ngay ngắn, thửa này nối tiếp thửa kia, cũng quá nhiều, nhiều đến cô liêu, nhiều đến đau khổ. Mỗi một cây, mỗi một cây lúa mì đều là những vết phồng rộp trong lòng bàn tay, những giọt mồ hôi trên trán của những người ở lại. Lúa mì không còn xứng đáng nhận được những vết phồng và giọt mồ hôi của những sinh mệnh trẻ trung nữa, nhưng dựa vào những tấm lưng còng, những đôi tay thô ráp, chúng vẫn có thể tiếp tục một vòng tuần hoàn tàn úa rồi lại tươi tốt.

Bông này chạm bông kia, gai này chạm gai nọ, gió cuốn qua cánh đồng lúa mì, từ nam ra bắc, từ đông sang tây. Đây không phải là lần đầu tiên Minh Nguyệt nhìn thấy cánh đồng lúa mì. Nhìn cánh đồng lúa mì chỉ khiến người ta thêm cô đơn. Phải sống đến tuổi của bà nội Dương Kim Phượng, còn xa lắm, xa lắm. Xa như vậy, chẳng lẽ mình cứ phải nhìn cánh đồng lúa mì mãi sao?

Minh Nguyệt nghĩ đến đây, không hiểu sao trong lòng có chút chua xót: Trên đời chắc chắn không chỉ có cánh đồng lúa mì. Nhưng ngoài cánh đồng lúa mì là gì, ai mà biết được?

Hễ có tâm sự, cô lại thích ôm chú cừu con nói chuyện. Minh Nguyệt về đến nhà, vào chuồng dê gọi cừu con. Tên nó rất tùy tiện, gọi là “Mồ Côi”, vì nó vừa sinh ra mẹ nó đã bị bán đi, lúc đó nhà đang cần tiền gấp. Minh Nguyệt ôm nó vào lòng, nói: “Mày có muốn lên thành phố không?”

“Mồ Côi” kêu “be” một tiếng.

“Vậy là muốn.”

“Mồ Côi” lại kêu “be be”.

“Ý gì đây? Rốt cuộc là muốn hay không muốn? Ai cũng muốn lên thành phố, tao cũng hơi muốn đi, nhưng mà, bà nội với Đường Đường đều ở đây, nên tao sẽ không đi đâu cả.”

Minh Nguyệt nói đến đây, lại nhớ đến một giọng nói, bỗng nhiên sống lại từ mùa xuân đã chết. Cảm giác đó là gì? Là khao khát, là phiền muộn, mỗi thứ một nửa.

Thứ sáu không có buổi học tối, Minh Nguyệt đi đón Đường Đường. Ở cổng trường mẫu giáo, người đón trẻ hầu hết là người già, hiếm có các cô vợ trẻ. Họ gặp nhau là lại nói chuyện nhà cửa, người làng bên sẽ đi xe ba bánh đến. Đối diện trường mẫu giáo có một bà cụ đang ngồi, chín mươi tuổi, con cái đều đã già, đang ở thành phố giúp con cháu đi làm trông nom bọn trẻ. Chồng mất rồi, chỉ còn lại một mình bà. Minh Nguyệt theo vai vế phải gọi bà là cụ Vinh, ngay cả Dương Kim Phượng cũng phải gọi là thím.

Minh Nguyệt thường xuyên gặp bà. Cụ Vinh thích nhất là ngồi ở cổng trường mẫu giáo ngắm trẻ con, ngồi cả nửa ngày. Ăn sáng xong, bà lại lê thân mình ra đây ngồi. Người qua lại, xe cộ qua lại, gia súc qua lại, cụ Vinh đều nhìn. Bà cũng không nói nhiều, tai điếc lắm. Tai người ta hễ không tốt, nói chuyện với người khác liền thấy mệt, càng mệt, càng nói ít đi.

Cụ Vinh ăn trưa xong, lại ra ngồi. Ngày qua ngày bà không nói, trong lòng bà đang nghĩ gì nhỉ? Mỗi lần gặp bà, Minh Nguyệt đều chạy lại chào thật to: “Cụ ơi! Cụ ra đây chơi ạ?”

Đôi mắt của cụ Vinh màu xám tro, ngẩng lên rất chậm, như thể âm thanh truyền đến từ cuối cánh đồng lúa mì. Phải đến khi đối diện với ánh mắt của Minh Nguyệt, bà mới nở một nụ cười rất chậm, rất chậm. Bà không nghe rõ, cũng không bảo người ta nói lại, chỉ “ừ à” cười đáp lại, xoa xoa tay bạn, ý bảo bà biết bạn đang chào bà. Bàn tay ấy, vừa chạm vào, giống như bị vỏ cây già cào hai cái. Minh Nguyệt cảm thấy cụ Vinh chắc chắn rất cô đơn. Những người ở lại làng Tử Hư, ai mà không cô đơn chứ?

Trẻ con chắc không cô đơn, vừa tan học là nhao nhao đòi người lớn mua quà vặt, chạy lung tung khắp nơi. Các ông bà già vai đeo cặp sách, mắng lũ cháu chạy nhanh ở phía sau. Già trẻ lớn bé, đi vào trong ánh hoàng hôn, càng đi càng xa, mỗi người một ngả về nhà. Chỉ có cụ Vinh, một mình ngồi đó.

Minh Nguyệt dắt Đường Đường đi ngang qua nhà bác Phùng. Hoa hồng trồng trước cửa nhà dì đã nở, từ xa đã ngửi thấy mùi thơm ngát. Cổng nhà bác Phùng rất bề thế, đặc biệt cao. Gia đình dì rất giàu có, bác Phùng là người sảng khoái, con trai con gái của dì đều đang học đại học ở nơi khác, chồng đi làm xa. Bác Phùng và mẹ chồng hai người trồng mười mẫu ruộng, cuộc sống gia đình khá giả hơn người khác một bậc. Dương Kim Phượng nói, chú Phùng là người có chút văn hóa, ra ngoài làm việc không phải bán sức lao động mà vẫn kiếm được tiền. Vì chú Phùng có văn hóa, biết rằng cho con cái học hành mới là con đường tốt, nên nhà chú mới có thể nuôi được hai sinh viên đại học. Dương Kim Phượng ngưỡng mộ nhất chính là gia đình chú Phùng.

Bác Phùng ngồi trước cửa nhặt hẹ: “Minh Nguyệt đón Đường Đường đấy à?”

Minh Nguyệt đáp: “Dì chuẩn bị bữa tối rồi ạ?”

Bác Phùng nói: “Gói bánh sủi cảo nhân hẹ trứng. Đường Đường có ăn socola không?” Gia đình bác rất hào phóng, nghe nói còn có họ hàng ở thành phố. Bác Phùng vừa nói vừa vỗ tay đứng dậy, gọi hai chị em Minh Nguyệt vào nhà. Minh Nguyệt kéo Đường Đường lại “Bác ơi, cháu không ăn đâu ạ, chúng cháu về nhà ngay đây.”

Đường Đường giãy nảy: “Em ăn socola, em ăn socola!”

Minh Nguyệt đỏ bừng mặt, đứa trẻ này thật là ham ăn chết đi được. Bác Phùng nói trẻ con đứa nào cũng ham ăn, rồi vào nhà lấy ra một hộp socola. Sân nhà bác Phùng thật sạch sẽ, nền xi măng thật đẹp, vườn rau nhỏ thật xinh, mọi thứ đều thật... Minh Nguyệt nhìn thấy trên mái nhà chính có một vật màu trắng, bèn hỏi: “Dì ơi, cái đó là gì vậy ạ?”

“Bình nước nóng, Tết năm ngoái bác trai cho người lắp đấy, chỉ cần có nắng là có nước nóng, mùa hè tắm rửa tiện lợi.” Bác Phùng cắm điện, ống nước xì xì ra nước, dì đang rửa hẹ.

Gia cảnh nhà bác Phùng thật tốt, là nhà đầu tiên trong làng lắp bình nước nóng, còn có cả máy giặt tự động. Làm việc gì trong nhà cũng không thấy mệt. Nhà Minh Nguyệt cách nhà bác Phùng hơi xa, vốn không phải hàng xóm, chỉ vì Đường Đường học ở đây nên mới thường xuyên đi qua, rồi trở nên quen thuộc.

“Bình nước nóng chắc đắt lắm ạ?”

“Dùng tiền học bổng mà chị Nguyệt Nguyệt của cháu lấy được đấy, không tốn tiền của nhà.” Bác Phùng vẻ mặt rất tự hào.

Minh Nguyệt thầm nghĩ, chị Nguyệt nhà bác Phùng là Nguyệt, mình cũng là Nguyệt, nhưng mình so với chị ấy thì kém xa quá.

“Học hành cho giỏi vào, phải thi đỗ đại học nhé Minh Nguyệt.” Bác Phùng hai tay dính đầy nước, lau vào tạp dề, rút điện ra “Hai chị em ở lại đây ăn sủi cảo nhé?”

Tâm trí Minh Nguyệt đã bay đi đâu mất, trả lời chẳng ăn nhập: “Dì ơi, sau này anh Lỗi với chị Nguyệt Nguyệt sẽ trở thành người thành phố ạ?”

“Ở lại thành phố tìm việc làm thì là người thành phố rồi, hộ khẩu cũng chuyển đi hết rồi.” Bác Phùng nói chuyện rất dứt khoát, giọng nói như tiếng cành cây gãy đánh “rắc” một tiếng.

Minh Nguyệt lại hỏi: “Đi làm công nhân có thể trở thành người thành phố được không ạ?”

Bác Phùng nói: “Chắc là không được, phải có hộ khẩu thành phố mới được tính là người thành phố. Hai chị em cháu cứ học cho giỏi vào, thi đỗ đại học rồi lên thành phố, bà cháu cũng được hưởng phúc được một chút.” Bác Phùng vốn định nói bà cháu là người có số khổ, nhưng lại cảm thấy nói vậy trước mặt trẻ con không hay, nên đi vào gian phòng phía Tây, tìm mấy quyển sách tham khảo cũ của Phùng Nguyệt đưa cho Minh Nguyệt.

“Sách hồi cấp hai của chị Nguyệt Nguyệt vẫn còn ạ?” Minh Nguyệt thấy lạ, tưởng đã bán đi từ lâu rồi.

Bác Phùng nói: “Vẫn còn cả đấy, không đọc nữa cũng giữ lại, cháu muốn xem thì cứ sang nhà mượn.”

Bác Phùng thật tốt. Sinh viên đại học ở làng này hiếm hoi lắm, một nhà dì lại có đến hai người. Minh Nguyệt dắt Đường Đường về nhà, miệng Đường Đường đen sì, dính nhớp. Trăng treo cao, lá dương xào xạc trong gió chiều.

Vừa nghe nói Đường Đường lấy socola của người ta, Dương Kim Phượng liền trách mắng Minh Nguyệt: “Người ta chỉ mời một câu, sao lại thật sự chạy vào nhà người ta thế?”

Minh Nguyệt nói: “Dì ấy nhiệt tình lắm, cứ giữ chúng cháu lại không cho về, nên mới vào ạ.”

Dương Kim Phượng là người có lòng tự trọng rất cao, bà không muốn bị người khác coi thường, nghĩ rằng hai đứa cháu gái của mình ham ăn, vì vậy trong lòng không vui. Minh Nguyệt liếc nhìn sắc mặt bà nội, nói: “Bác Phùng thật lòng cho đấy ạ, còn bảo cháu phải học cho giỏi. Cháu phân biệt được người ta chỉ mời cho có lệ hay là thật lòng muốn cho mà.”

“Thế cũng không được nhận, cho là lấy à? Mấy năm trước nhà mình nghèo không có cơm ăn, bây giờ không nói là ngày nào cũng có thịt, nhưng bữa thịt cũng sẽ không thiếu của hai đứa, ra ngoài cứ chìa tay nhận đồ của người ta không ra thể thống gì.”

Dương Kim Phượng nói xong, liền đi ngâm đậu. Đậu, đậu, trong nhà lúc nào cũng thoang thoảng một mùi chua nhẹ, đó là mùi của đậu phụ. Nhà không thường xuyên ăn thịt. Minh Nguyệt ngồi trước cửa sổ, ngẩng đầu lên, nhìn thấy vầng trăng sáng trên trời. Nhìn một lúc, vầng trăng liền biến thành chiếc bình nước nóng. Có nắng là có nước nóng, thật kỳ diệu biết bao. Cô không hiểu rõ đó là chuyện gì, nhưng cô hy vọng một ngày nào đó, mình cũng có thể lắp bình nước nóng cho nhà mình, giống như nhà bác Phùng.

 

** Lưu ý cho các bạn độc giả: 
Truyện có phí full bộ là 50.000 VNĐ. Không giới hạn số lần đọc.
Các bạn nhấn nút mua truyện rồi thì vui lòng chuyển khoản theo số tài khoản sau để được xác nhận mở toàn bộ truyện nhé. 
1440166441 - BIDV - Trương Hoàng Phương.
Nhóm rất cám ơn vì sự ủng hộ của các bạn.

Chương trướcChương sau